Carat là đơn vị trọng lượng, 1 carat bằng 0,2 gam; nó không cho biết viên đá to bao nhiêu khi nhìn từ trên xuống. Hai viên đá rời cùng 1 carat có thể chênh nhau rõ về kích thước mặt nhìn, vì mỗi loài đá nặng nhẹ khác nhau theo thể tích, và vì người mài có thể dồn trọng lượng xuống phần đáy hoặc vào phần gờ nơi mắt không thấy.
Với người mua đá rời, con số đáng đọc nhất vì thế là kích thước theo milimet, đặc biệt là chiều dài và chiều rộng của mặt trên. Bài này chỉ cách đọc ba con số kích thước, giải thích vai trò của tỉ trọng, và cách nhận ra viên đá đang "giấu cân" ở chỗ không góp gì vào vẻ ngoài.
Carat, gam và vì sao người mua đá màu nên nhìn milimet trước
Carat được chuẩn hoá ở mức 200 miligam, tức 0,2 gam, và được dùng cho kim cương lẫn đá màu. Con số này chính xác, đo được bằng cân chuyên dụng, nên rất tiện để ghi trên giấy tờ. Nhưng thứ người đeo và người ngắm thấy là diện tích mặt trên của viên đá và độ sáng của nó, không phải trọng lượng.
Ở kim cương, vì cùng một loài và kiểu mài tròn khá thống nhất, carat gần như đủ để hình dung cỡ viên. Ở đá màu thì không. Một viên tourmaline 1 carat và một viên sapphire 1 carat cùng dáng oval sẽ không bằng nhau, và trong cùng một loài, hai viên cùng cân có thể khác cỡ vì kiểu mài. Đó là lý do người buôn đá màu thường nói cỡ bằng milimet, còn carat chỉ là thông tin đi kèm.
Khi đọc mô tả đá rời, nên để ý xem người bán ghi đủ ba chiều hay chỉ ghi carat. Mô tả chỉ có carat là mô tả thiếu. Bạn hoàn toàn có thể xin thêm kích thước, và một người bán có cân, có thước kẹp sẽ trả lời được trong vài phút.
Tỉ trọng: vì sao mỗi loài đá "nặng tay" khác nhau
Tỉ trọng cho biết một loài đá nặng gấp bao nhiêu lần nước cùng thể tích. Đá có tỉ trọng cao thì cùng một carat chiếm ít chỗ hơn, trông nhỏ hơn. Bảng dưới ghi giá trị tham khảo phổ biến trong tài liệu đá quý học; từng viên có thể lệch chút ít, và nhóm như garnet dao động rộng theo thành phần.
| Loài đá | Tỉ trọng tham khảo | Cùng carat so với kim cương |
|---|---|---|
| Opal | khoảng 2,15 | To hơn rõ |
| Thạch anh (thạch anh tím, citrine) | khoảng 2,65 | To hơn |
| Beryl (emerald, aquamarine) | khoảng 2,72 | To hơn |
| Tourmaline | khoảng 3,06 | Hơi to hơn |
| Peridot | khoảng 3,34 | Gần tương đương |
| Kim cương | khoảng 3,52 | Mốc so sánh |
| Topaz | khoảng 3,53 | Gần tương đương |
| Spinel | khoảng 3,60 | Gần tương đương, hơi nhỏ hơn |
| Corundum (ruby, sapphire) | khoảng 4,00 | Nhỏ hơn |
| Zircon | khoảng 4,6–4,7 | Nhỏ hơn rõ |
Phép tính nhanh, ví dụ giả định: một viên aquamarine và một viên sapphire cùng 2 carat, mài cùng dáng và cùng tỉ lệ. Thể tích viên aquamarine lớn hơn khoảng 4,00 chia 2,72, tức gần 1,47 lần. Kích thước theo mỗi chiều chỉ tăng theo căn bậc ba của con số đó, khoảng 14%. Nghĩa là viên aquamarine dài hơn, rộng hơn chừng một phần bảy, một khác biệt nhìn thấy rõ khi đặt cạnh nhau.
Đọc ba con số kích thước trên mô tả đá rời
Chiều dài và chiều rộng. Hai con số đầu, đo trên mặt nhìn từ trên xuống. Viên tròn chỉ có một đường kính, thường đo ở vài hướng rồi ghi khoảng nhỏ nhất đến lớn nhất, ví dụ giả định 6,02–6,08 mm. Hai con số này quyết định viên đá "trông" to bao nhiêu và có vừa một ổ đúc sẵn không.
Chiều sâu. Con số thứ ba, đo từ mặt bàn xuống chóp đáy. Chiều sâu cho biết viên đá dồn bao nhiêu vật chất xuống dưới. Muốn so sánh, người ta chia chiều sâu cho chiều rộng để được tỉ lệ phần trăm. Đá màu không có một tỉ lệ "chuẩn" chặt như kim cương tròn, nhưng tỉ lệ quá thấp hay quá cao đều là tín hiệu nên xem kỹ.
Tỉ lệ dài – rộng. Với dáng oval, giọt nước, chữ nhật, chia chiều dài cho chiều rộng để biết viên đá thon hay bầu. Tỉ lệ này là chuyện thẩm mỹ, nhưng nó ảnh hưởng tới việc chọn ổ: ổ oval làm sẵn thường theo một vài tỉ lệ quen thuộc.
Sai số đo. Thước kẹp thông thường đo tới phần trăm milimet, nhưng hai người đo cùng một viên có thể lệch vài phần trăm milimet tuỳ chỗ đặt hàm kẹp. Chênh lệch nhỏ như vậy là bình thường; chênh nửa milimet trở lên so với mô tả thì cần hỏi lại.
Phần đáy và phần gờ: nơi viên đá giấu trọng lượng
Người mài đá màu thường phải cân giữa hai mục tiêu: giữ được càng nhiều trọng lượng từ phôi càng tốt, và làm viên đá sáng đẹp. Ở nhiều vùng buôn bán, viên đá được bán theo carat nên trọng lượng có sức hút riêng. Kết quả là có những viên đá mài với phần đáy phình to hoặc sâu hẳn xuống, hay phần gờ để dày như một vành đai. Phần vật chất đó làm số carat tăng lên nhưng gần như không làm mặt nhìn rộng ra.
Đáy phình nhìn nghiêng thấy rõ: thay vì thu nhỏ đều về chóp, phần đáy phình ra như cái bụng rồi mới thu lại. Gờ dày thì nhìn ngang thấy một dải mờ bao quanh viên đá, dày hơn hẳn mức cần để giữ cho gờ không mẻ. Cả hai đều khiến viên đá khó vào những ổ nông, và khi gắn lên nhẫn sẽ làm viên đá nhô cao hơn.
Cách nhận nhanh khi đọc mô tả: so trọng lượng với kích thước mặt trên. Nếu bạn có hai viên cùng loài, cùng dáng, một viên nặng hơn hẳn mà mặt trên gần như bằng nhau, phần nặng thêm nằm ở đáy hoặc ở gờ. Cũng cần công bằng với người thợ: mài theo dáng phôi để giữ viên đá lớn là cách làm có lý do, và với đá hiếm, một phần đáy sâu hơn thường được chấp nhận. Điều quan trọng là bạn biết mình đang trả cho phần nào của viên đá.
Tự ước cỡ viên đá từ mô tả trước khi xem tận mắt
Khi mua từ xa hoặc khi so nhiều lựa chọn trên giấy, bạn có thể làm một phép ước đơn giản để không bị con số carat dẫn dắt:
- Ghi lại loài đá, dáng mài, carat và ba chiều kích thước của từng viên định so.
- Chỉ so những viên cùng loài trước. Khác loài thì tỉ trọng khác, phép so trọng lượng mất ý nghĩa.
- Nhân chiều dài với chiều rộng để có một con số đại diện cho mặt nhìn. Viên nào có tích lớn hơn sẽ trông to hơn khi gắn, bất kể carat.
- Chia chiều sâu cho chiều rộng. Viên có tỉ lệ cao bất thường so với các viên còn lại đáng được xem kỹ phần đáy.
- Vẽ lên giấy trắng một hình oval hoặc hình tròn theo đúng kích thước milimet, đặt cạnh đồng xu hoặc móng tay để hình dung cỡ thật.
- Khi được xem tận mắt hoặc qua video, xin người bán quay một góc nghiêng để thấy phần đáy và phần gờ, đối chiếu với điều bạn đã ước.
Cách làm này không thay được việc nhìn tận mắt, nhưng giúp bạn loại bớt những viên mà số carat đẹp trên giấy còn mặt nhìn thì không như kỳ vọng.
Khi milimet quan trọng hơn carat: đá cỡ chuẩn và ổ đúc sẵn
Có một tình huống mà con số milimet gần như quyết định tất cả: khi bạn mua đá rời để gắn vào một vỏ nhẫn, vỏ bông tai đúc sẵn. Vỏ đúc sẵn được làm theo những cỡ tròn số, như ổ oval 7 × 5 mm hay ổ tròn 6 mm. Viên đá lệch vài phần mười milimet so với ổ có thể vẫn gắn được nhờ thợ chỉnh chấu; lệch nhiều hơn thì thợ phải sửa ổ, hàn thêm, hoặc làm ổ riêng.
Đá mài theo cỡ chuẩn, trong nghề hay gọi là đá calibrated, thường là đá phổ thông được mài số lượng lớn với kích thước đều nhau. Đá quý hiếm, đá lớn hoặc đá mài để giữ trọng lượng phôi thì thường không theo cỡ chuẩn, vì cắt cho tròn số sẽ làm mất thêm vật chất. Vì thế, khi định dùng vỏ có sẵn, hãy hỏi người bán đá xem viên đó có phải đá cỡ chuẩn không, và đưa số đo cho thợ trước khi trả tiền.
Ngược lại, nếu bạn định làm ổ riêng theo viên đá, chuyện lệch cỡ chuẩn không còn là vấn đề. Lúc đó, chiều sâu lại quan trọng hơn: viên đá sâu cần ổ cao hơn, và ổ cao thì dễ vướng áo, vướng tóc khi đeo hằng ngày. Một con số chiều sâu trên mô tả đá rời giúp thợ hình dung được chiếc nhẫn sẽ cao bao nhiêu trên ngón tay, điều mà số carat không bao giờ nói được.
Những hiểu lầm hay gặp về carat của đá màu
Vài câu nghe ở quầy hay trên mạng thường làm người mua mới hiểu sai. Dưới đây là cách hiểu đúng hơn cho từng câu:
- "Cùng 1 carat thì cùng cỡ." Chỉ gần đúng khi cùng loài, cùng dáng, cùng tỉ lệ mài. Khác một trong ba điều đó là khác cỡ.
- "Carat càng cao càng đẹp." Trọng lượng không nói gì về màu, độ sạch hay độ sáng. Một viên nhỏ mài đẹp có thể nổi bật hơn một viên lớn bị đáy phình làm tối.
- "Carat là kara của vàng." Hai thứ khác nhau: carat của đá là trọng lượng, còn kara của vàng là tuổi vàng, chỉ tỷ lệ vàng trong hợp kim.
- "Ước carat theo cỡ là ra ngay." Có những công thức ước trọng lượng từ kích thước, dùng hệ số theo dáng mài và tỉ trọng. Chúng hữu ích để ước đá đã gắn, nhưng sai số đáng kể khi phần đáy và gờ khác thường. Đá rời thì cứ cân.
- "Đá tổng hợp nhẹ hơn đá tự nhiên." Ruby, sapphire, spinel tổng hợp có thành phần như đá tự nhiên nên tỉ trọng gần như bằng. Không thể dựa vào cân để phân biệt hai loại này.
Câu hỏi thường gặp
Một viên đá 1 carat to khoảng bao nhiêu milimet?
Không có con số chung cho mọi loài đá. Viên kim cương tròn mài chuẩn 1 carat thường được nhắc với đường kính khoảng 6,4–6,5 mm; đá có tỉ trọng thấp hơn như aquamarine sẽ to hơn, đá nặng hơn như sapphire sẽ nhỏ hơn. Muốn biết chính xác, hãy hỏi kích thước đo thật của viên bạn định mua.
Cân điện tử nhà bếp có cân được đá rời không?
Cân nhà bếp thường chỉ chia vạch tới một gam hoặc một phần mười gam, quá thô so với đá rời vài carat. Cân carat chuyên dụng chia tới phần trăm hoặc phần nghìn carat. Nếu cần con số làm căn cứ, hãy cân bằng cân chuyên dụng ở nơi có thiết bị, có mặt bạn chứng kiến.
Đáy phình có làm viên đá kém sáng không?
Thường là có ở một mức nào đó. Phần đáy quá sâu hoặc phình to khiến ánh sáng đi vào bị thoát ra ở hướng khác thay vì dội ngược lên mắt, tạo những vùng tối trên mặt bàn. Mức độ tuỳ loài đá và tay thợ, nên vẫn cần nhìn thực tế.
Có nên mài lại viên đá đáy dày cho đẹp hơn không?
Mài lại sẽ làm mất trọng lượng và có thể làm phiếu giám định cũ không còn khớp số đo. Với đá giá trị cao, đó là quyết định lớn cần hỏi ý kiến thợ mài có kinh nghiệm với đúng loài đá ấy. Nhiều người chọn giữ nguyên và chọn ổ phù hợp hơn.
Vì sao người bán đá màu hay báo cỡ bằng ly?
Ly là cách nói dân gian của milimet. Báo cỡ bằng ly hợp với cách người mua hình dung viên đá trên tay và hợp với việc chọn ổ. Khi người bán nói "viên tám ly sáu ly", bạn nên hỏi lại để có cả chiều sâu và carat ghi bằng chữ.